Nghị định về việc ban hành “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi” năm 1957

Bản chính “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi” được ban hành kèm theo Nghị định số 410-TTg ngày 06/9/1957 của Thủ tướng Chính phủ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 1236.
Với cương vị Thủ tướng Chính phủ, tuy bận rất nhiều công việc của đất nước, nhưng Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng vẫn dành tình cảm đặc biệt, quan tâm đến đồng bào, chiến sĩ; nhất là đồng bào dân tộc và miền núi. Để tăng cường đoàn kết và đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống cho nhân dân miền núi, góp phần bảo đảm cung cấp và xây dựng nước nhà. Ngày 06/9/1957 Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đã ký ban hành Nghị định số 410-TTg về việc “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi”. Đây là văn bản thể hiện rõ chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với nhân dân các dân tộc thiểu số.

 

 
 
 
Nghị định số 410-TTg ngày 06/9/1957 của Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng  về việc “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi”. Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 1236.
 
Sau đây là nội dung “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi”:
 1. Khuyến khích cày cấy ruộng bỏ hoang và khai hoang
 Ai muốn cày cấy ruộng bỏ hoang thì báo cáo với Ủy ban Hành chính và Nông hội xã. Ủy ban và Nông hội xã có trách nhiệm thương lượng với chủ ruộng cho ổn thỏa, bảo đảm đoàn kết dân tộc. Người cày cấy được thu toàn bộ hoa lợi, được miễn thuế nông nghiệp từ 3 -5 năm, và được quyền sở hữu ruộng đất cày cấy nếu ruộng đất ấy đã trở thành ruộng đất công.
 Ai khai phá đất hoang, biến bãi bằng, thung lũng, sườn đồi, nương ót thành ruộng sẽ được miễn thuế nông nghiệp 7 năm. Người khai phá phải xin phép Ủy ban Hành chính xã và được quyền sở hữu ruộng đất cày cấy.
Đồng bào chuyên sống về nương rẫy chuyển xuống làm ruộng được miễn thuế nông nghiệp 2 năm nếu làm ruộng thuộc; nếu làm ruộng bỏ hoang thì được miễn thuế từ 3 - 6 năm, tùy điều kiện canh tác khó hay dễ; nếu là đất hoang chưa ai khai phá thì được miễn thuế 7 năm. Chính phủ sẽ giúp đỡ, hướng dẫn kỹ thuật và sẽ tùy khả năng cho những gia đình túng thiếu vay vốn để tạo trâu, bò, nông cụ, vv…
 Ruộng đất bỏ hoang không có lý do chính đáng được nhân dân địa phương xác nhận thì không miễn thuế.
Mọi việc huy động dân công, nên tránh huy động vào những vụ sản xuất chính của mỗi dân tộc, đồng thời phải giúp đỡ sắp xếp công việc làm ăn giữa những người đi dân công và những người ở nhà.
2. Chăm bón tốt thêm, tăng thêm vụ không phải đóng thuế thêm
 Chính phủ khuyến khích nông dân cải tiến cách làm ăn. Nếu do chăm bón ruộng đất, nương rẫy kỹ hơn, trồng cây thêm vụ, trồng những thứ cây có lợi nhiều, nhờ làm mương phai, đập hoặc cải tiến nông cụ, mà thu hoạch nhiều hơn sản lượng thường năm, thuế vẫn tính theo sản lượng thường năm.
3. Khuyến khích trồng cây ăn quả, cây công nghệ
  Những cây ăn quả và những cây công nghệ trồng có tính chất tự túc, góp một phần vào sinh sống của gia đình thì được miễn thuế.
Đối với những thứ hoa màu phụ, cây công nghệ thu hoạch từng vụ, từng năm trồng trên các nương rẫy cũ, không kể nhiều hay ít đều được miễn thuế nông nghiệp 3 năm, kể từ khi có thu hoạch.
Trồng sa nhân, dược thảo thì không phải nộp thuế.
4. Khuyến khích làm rẫy hợp lý, trồng cây gây rừng
 Để bảo vệ rừng, bảo vệ đầu nguồn, chống lũ, chống hạn. Chính phủ khuyến khích nhân dân ra sức chăm bón và canh tác nương rẫy cũ, giảm dần việc phát nương rẫy mới; tránh phát rẫy vào đầu nguồn nước, vào rừng có lâm sản quý; không phát rẫy thành những vùng rộng lớn, không phát vào sườn núi dốc ở ven đường giao thông, không làm cháy rừng. Ai trồng cây gây rừng ở những đồi núi trọc, ở các bãi đất hoang, vv…sẽ được hưởng hoàn toàn quyền sở hữu cây trồng. Khi trồng cây phải báo cho Ủy ban Hành chính xã biết.
5. Khuyến khích phát triển chăn nuôi
Chính phủ khuyến khích nhân dân phát triển chăn nuôi, nhất là trâu, bò, ngựa. Những người nuôi được nhiều trâu, bò, ngựa không coi như địa chủ. Chính phủ khuyến khích nhân dân ra sức bảo vệ và phát triển những giống súc vật tốt, giảm dần việc giết các súc vật còn nhỏ. Những đực giống trâu, bò, ngựa tốt dùng để nhảy giống được thù lao tương xứng, giá cả do hai bên thỏa thuận. Ở nơi có nhiều đồng cỏ, Chính phủ sẽ giúp nhân dân phát triển chăn nuôi, đặt các trạm truyền giống, trạm thú y để phòng, chống dịch tễ, và cho những gia đình túng thiếu vay vốn. Những ruộng đất trồng cỏ để chăn nuôi được miễn thuế.
6. Khuyến khích phát triển nghề phụ và thủ công
Để nhân dân có thêm công ăn việc làm và có thêm hàng hóa thích hợp với thị hiếu dân tộc. Chính phủ khuyến khích khôi phục và phát triển các nghề phụ và thủ công. Những nông dân làm nghề phụ và thủ công được tính nhân khẩu nông nghiệp. Chính phủ giúp cán bộ hướng dẫn cải tiến kỹ thuật và tùy khả năng cung cấp nguyên vật liệu và tìm cách giúp đỡ tiêu thụ hàng hóa làm ra.
7. Đảm bảo tự do vay mượn, tự do thuê mướn nhân công, thuê mướn trâu, bò, ngựa
 Việc vay và cho vay đều được tự do. Có vay có trả, có vốn có lãi, do hai bên thỏa thuận.
Việc thuê mượn nhân công được tự do, việc đi làm thuê được tự do, không ai ngăn cấm, cưỡng ép. Tiền công do hai bên thỏa thuận theo giá hợp lý ở địa phương.
Việc thuê và cho thuê trâu, bò, ngựa, việc lấy công người đổi công trâu bò, ngựa đều được tự do. Công trâu, bò, ngựa, việc nuôi rẽ gia súc do hai bên thỏa thuận. Nếu người thuê súc vật không chăm sóc chu đáo, hoặc sử dụng quá sức, làm cho súc vật bị mất sức, tàn tật hay chết, thì người thuê phải đền bù theo giá cả do hai bên thỏa thuận. Nếu súc vật thuê về không giữ gìn cẩn thận, phá hoại mùa màng của người khác thì người thuê phải chịu trách nhiệm.
Gia súc cho thuê, cho nuôi rẽ giữa nông dân với nhau hay giữa nông dân với các từng lớp khác, nếu chủ muốn lấy về thì do hai bên thương lượng và thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì chính quyền và nông hội xã sẽ dàn xếp trên nguyên tắc bảo đảm quyền lợi cá nhân hai bên.
8. Khuyến khích việc giúp đỡ lẫn nhau
Để giải quyết những khó khăn trong việc sản xuất, Chính phủ khuyến khích nhân dân các dân tộc xây dựng, phát triển và cải tiến các tổ chức làm ăn tập thể của địa phương trên nguyên tắc tự nguyện, mọi người đều có lợi và dần dần tiến lên thành những tổ đổi công, những hợp tác xã sản xuất,v.v…
Đối với những gia đình liệt sĩ, thương binh, chiến sĩ, cán bộ, học sinh đi học xa, gia đình có người đi dân công, nhân dân cần tổ chức đổi công, để đảm bảo ruộng nương của họ được cày cấy kịp thời. Nếu những gia đình trên cô đơn thì nhân dân nên giúp đỡ họ.
 Chính phủ khuyến khích nhân dân các thôn, xã giúp đỡ nhau, cùng nhau hợp tác phát triển các đường sá nhỏ, các phương tiện vận chuyển thô sơ, đặc biệt ngựa thồ, để đẩy mạnh việc giao lưu hàng hóa. Thuế hàng hóa đối với các vùng xa, hẻo lánh sẽ được chiếu cố thích đáng.
 Chính phủ khuyến khích nhân dân các thôn, xã, giúp đỡ nhau, cùng nhau hợp tác phát triển các công trình tiểu thủy nông, Đối với những công trình trung thủy nông, Chính phủ có thể giúp cán bộ hướng dẫn kỹ thuật, cung cấp nguyên vật liệu và cho vay vốn nếu địa phương không đủ sức đóng góp một lần.
Ở những nơi nhân dân thiếu ruộng, đất để tăng vụ, Chính phủ khuyến khích những người có ruộng đất thừa, hoặc thiếu khả năng tăng vụ cho người khác mượn hoặc thuê. Các khoản thu về cho thuê ruộng đất ấy không coi như địa tô, người chủ ruộng không coi là địa chủ. Giá cả thuê mướn do hai bên thỏa thuận, hai bên đều có lợi. Chính phủ khuyến khích việc phát triển quỹ tín dụng và các thứ quỹ tương tế khác nhằm mục đích cho nhân dân vay mượn để sản xuất.
9. Bảo hộ và khuyến khích làm ăn khá giả, khen thưởng chiến sĩ lao động
Chính phủ khuyến khích nhân dân các dân tộc ra sức thi đua sản xuất tiết kiệm, bảo vệ sản xuất, bảo vệ gia súc, thực hiện kế hoạch Nhà nước, làm cho gia đình ngày càng no ấm, ngày càng khá giả. Nhân dân và cán bộ có thành tích xuất sắc trong công tác trên sẽ được khen thưởng.
10. Nghiêm cấm phá hoại sản xuất, bảo hộ quyền lợi nhân dân
Những kẻ cố tình phá hoại mùa màng, giết hại trâu bò, phá hoại nông cụ, đốt rừng phá núi, phá hoại cây trồng, nhà cửa, phá hoại công trình thủy lợi, các phương tiện sản xuất khác, bất cứ của công hay của tư, đều bị nghiêm trị.
 Bản chính “Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi” được ban hành kèm theo Nghị định số 410-TTg ngày 06/9/1957 của Thủ tướng Chính phủ hiện đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III, phông Phủ Thủ tướng, mục lục 1, hồ sơ 1236.
“Mười chính sách khuyến khích sản xuất ở miền núi” có ý nghĩa chính trị và kinh tế rất quan trọng. Thể hiện chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng ta đối với việc phát triển sản xuất, cải thiện đời sống cho nhân dân ở miền núi, góp phần to lớn củng cố lòng tin tưởng của nhân dân lao động các dân tộc miền núi đối với sự lãnh đạo của Đảng và đối với chính quyền dân chủ nhân dân, có tác dụng to lớn nhằm phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân, tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc tạo nền tảng vững chắc để tiếp tục nâng cao đời sống vật chất cho đồng bào các dân tộc thiểu số./. 
 

Tác giả bài viết: https://luutru.gov.vn/